Thành viên mới
Tìm kiếm
Đăng ký nhận tin
TamQuoc.vn
Như cười ngắm hoa (Phạm Đình Chúc)
Truyện thơ Lý Lan
 

Vĩ nhân thời ốc đảo ( Truyện ngắn dự thi của Lê Hoài Nam)

Vĩ nhân thời ốc đảo ( Truyện ngắn dự thi của Lê Hoài Nam)
VANTHOVIET.COM »
09/06/2011 | 22:17
Mộ Nguyễn Trường Tộ mai táng nơi nghĩa địa ngoài cánh đồng cách ngôi nhà thờ xứ không xa. Ngay khi giã biệt cõi đời ở tuổi 44, Thiên Chúa đã cất vong linh ngài về thiên đàng

Vĩ nhân thời ốc đảo

Truyện ngắn dự thi của Lê Hoài Nam


Mộ Nguyễn Trường Tộ mai táng nơi nghĩa địa ngoài cánh đồng cách ngôi nhà thờ xứ không xa. Ngay khi giã biệt cõi đời ở tuổi 44, Thiên Chúa đã cất vong linh ngài về thiên đàng, nhưng hẳn vì còn quá nhiều nặng nợ với nhân gian nên ngài thường theo cánh bay của các thiên thần xuống mặt đất đi lang thang đây đó. Cứ sau mỗi chuyến đi ngài lại trở về cánh đồng dưới chân núi, nơi có khu nghĩa địa và ngôi mộ của ngài. Nguyễn ngồi trên một thân cây đổ nghiêng, tựa lưng vào vách đá, mắt dóng về phía biển mà trầm tư mặc tưởng. Bên hông ngài đeo một cái bị đan bằng dây mây rừng, trong đó có những tác phẩm của Rút-xô, Von-te, Ra-bơ-le… mang từ bên Pháp về từ thời ngài sang du học. Đó là những cuốn sách có giá trị thúc đẩy quá trình khai sáng, từ một xứ Gô-loa tăm tối, buồn tẻ trở thành một nước Đại Pháp giàu sang, với thủ đô Pa-ri tráng lệ bậc nhất châu Âu thế kỷ mười chín. Chưa có điều kiện phổ biến những tác phẩm này nơi quê hương xứ xở thì Nguyễn Trường Tộ đã vĩnh biệt thế gian, rất lấy làm nuối tiếc, nên bây giờ ngài thường mang theo bên mình, thỉnh thoảng lại mang ra đọc. Đã sang thế kỷ hai mươi mốt nhưng Nguyễn nhận thấy tư tưởng từ những cuốn sách ấy chưa hề lạc hậu đối với nước Việt mến yêu của ngài.
- Hiền đệ Fukuzawa Yukichi xin kính chào Nguyễn Trường Tộ sư huynh!
Đang chăm chú đọc lại cuốn "Bàn về giáo dục” của Rút-xô, Nguyễn Trường Tộ khẽ giật mình khi nghe tiếng chào, ngẩng nhìn lên đã thấy một người đàn ông cao lớn, khuôn mặt đầy đặn nhưng quắc thước, vầng trán cao, mắt sáng, khoác chiếc áo dạ màu cỏ úa có hàng cúc vàng rất to, sáng lấp lánh, tay chống một cây gậy bằng thân cây trúc già. Cả khi còn sống cũng như khi thân xác đã vùi dưới ba thước đất, hồn bay về trời, Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa chưa một lần gặp mặt, nhưng lúc này vừa nhìn thấy nhau, họ đã thấy có sự gần gặn như đã quen thân từ lâu lắm. Nguyễn đứng dậy cúi đầu chào đáp lễ rồi nắm một bàn tay dắt Fukuzawa ngồi xuống phiến đá bằng phẳng cạnh thân cây đổ nghiêng mà ngài vừa ngồi. Nguyễn ngửa mặt lên trời phác ra những cử chỉ như một linh mục đang truyền giảng phép thánh thể. Những cử chỉ ấy vừa chấm dứt thì vong linh người bõ già mặc áo chùng đen từ phía nhà thờ xứ bay ra mang theo cái khay đựng hai bát nước chè xanh vàng sánh. Nguyễn nhận một bát. Khách nhận một bát. Vong linh người bõ già cúi chào hai người rồi bay trở lại nhà thờ. Nguyễn nhấp một ngụm. Fukuzawa cũng nhấp một ngụm, chắc là ngài thích, liền ngửa cổ uống cạn. Fukuzawa khà một tiếng, khen trà ngon, rồi nhìn lướt từ cái khăn xếp Nguyễn thắt trên đầu xuống bộ áo the Nguyễn mặc tới đôi guốc gỗ dưới chân Nguyễn, thầm nghĩ: "Sư huynh học tây về mà cách ăn mặc, phong độ vẫn rất Việt Nam”. Fukuzawa hỏi:
- Sư huynh nghĩ sao về cuộc viếng thăm đường đột của hiền đệ?
- Thần nghe tiếng đại nhân đã hơn một trăm năm - Nguyễn nói - nhưng chưa bao giờ dám mơ có một ngày đại nhân cất công đến tận nơi thảo lư heo hút này thăm thần. Xin hỏi, từ Nhật Bản sang đây, đại nhân đi bằng con đường nào vậy?
- Hiền đệ đi máy bay từ Tôkyô sang Hà Nội. Từ Hà Nội vào đây thì đi tàu hoả. Hiền đệ muốn đi tàu hoả dọc đất nước của sư huynh để chiêm ngưỡng cảnh đẹp sơn thuỷ hữu tình. Các kỹ sư của hãng Yamaha, cứ mỗi lần từ Việt Nam về Nhật Bản nghỉ phép, trước khi trở lại Việt Nam họ lại đến mộ hiền đệ dâng hoa, thắp hương cầu xin hiền đệ phù hộ cho họ làm ăn thăng tiến, hiển đạt. Lần này có một kỹ sư khấn rằng: "Công ty liên doanh Yamaha của chúng con đặt ở một thị trấn, cách mộ cụ Nguyễn Trường Tộ không xa lắm. Nếu vong linh Fukuzawa tiên sinh muốn sang thăm vong linh Nguyễn tiên sinh, xin mời ngài đi cùng chúng con!”. Đây quả là một cơ hội lớn với hiền đệ, bởi từ lâu rồi hiền đệ đã mong có một chuyến đi như thế.
Nguyễn Trường Tộ lại chắp tay khấu đầu tạ lễ:
- Thần xin thành tâm đa tạ đại nhân!
- Kìa sư huynh! - Fukuzawa đưa tay đỡ Nguyễn ngồi dậy, nói tiếp - sư huynh cứ gọi tôi là hiền đệ. Sư huynh sinh năm 1828, hơn hiền đệ 7 tuổi kia mà! Vả lại, hiền đệ có là vua đâu mà sư huynh xưng là "thần”!
- Không là vua trên danh nghĩa trị vì một vương quốc - Nguyễn nói - nhưng đại nhân là vua về tư tưởng. Hãy cho thần xưng hô như thế mới xứng với vị thế của đại nhân!
- Tư tưởng ư? Sư huynh đâu có kém hiền đệ! - Fukuzawa nói - Đọc tài liệu, hiền đệ biết, sư huynh và hiền đệ có nhiều điểm tương đồng. Chúng ta cùng không sinh ra ở thủ đô mà chỉ là những đứa con của tỉnh nhỏ. Những tỉnh nhỏ có truyền thống học hành, khoa bảng. Phụ thân của sư huynh và phụ thân hiền đệ đều là nhà nho trung lưu, đệ tử của Khổng - Mạnh. Từ nhỏ chúng ta cùng học giỏi, cùng không vô tình trước những biến động lớn của thời đại. Ngày ấy Nhật Bản giống Việt Nam ở chỗ, cùng do một chế độ phong kiến lỗi thời, đang băng hoại trị vì. Nhìn đâu cũng thấy đói khát, bất công, loạn lạc, thân phận người dân như bèo bọt. Cùng bị các nước châu Âu nhòm ngó, muốn biến thành thuộc địa. Cả sư huynh và hiền đệ đều sớm nhìn ra thực trạng đáng buồn đó, cùng nuôi khát vọng thay đổi bằng con đường cải cách, duy tân. Cả hai chúng ta đều hiểu rằng, công cuộc duy tân không thể đặt lên vai những kẻ ít học. Vậy thì việc đầu tiên người dân hai nước phải làm là cái sự học. Học ở chính các nước châu Âu đang nhòm ngó nuôi tham vọng thôn tính chúng ta. Làm cho họ vượt sóng gió đại dương vào đất nước chúng ta trong tư thế những đối tác làm ăn, chứ không phải trong tư thế kẻ xâm lược!
- Đúng vậy - Nguyễn Trường Tộ nói - Đại nhân đã nói đúng như những điều ngày ấy thần suy nghĩ.
- Còn nữa - Fukuzawa nói tiếp - Chính vì những ý nghĩ ấy mà hiền đệ tìm đến Nagasaki học tiếng Hà Lan. Chẳng bao lâu hiền đệ trở thành giáo viên dậy tiếng Hà Lan cho cả lãnh địa Nakatsu. Sau đó nhận thấy, sự phát triển của Hà Lan đã có những biểu hiện lỗi thời, hiền đệ liền chuyển sang học tiếng Anh. Hồi ấy cả lãnh địa Nakatsu chưa có một giáo viên tiếng Anh. Hiền đệ phải nhờ các thương gia châu Âu dậy dỗ ban đầu, sau thì mua từ điển về học.
- Quả là con đường học hành của đại nhân và thần có những nét giống nhau - Nguyễn Trường Tộ nói mà như reo lên - Cũng vào những năm ấy nhà thờ Xã Đoài mời thần làm giáo viên dậy chữ Hán. Tại đây, thần được giám mục Gauthier dậy cho tiếng Pháp. Thần cũng phải mua từ điển về học thêm.
- Khi vốn tiếng Anh đã tàm tạm - Fukuzawa nói - hiền đệ bắt đầu ôm mộng du ngoạn phương tây. Thế rồi đến năm 1860, chính quyền Shogun cử một phái đoàn sang Francisco Hoa Kỳ để giải quyết những điều khoản trong một hiệp ước, hiền đệ liền xin đi theo. Hàng hải của Nhật Bản khi ấy còn lạc hậu, vượt biển nửa vòng trái đất nghĩa là chấp nhận sự mạo hiểm, có thể phải đánh đổi cả tính mạng.
- Còn thần - Nguyễn Trường Tộ nói - cũng vào dịp ấy, thần được giám mục Gauthier đưa sang Hương Cảng, Singapore, ghé qua Rô-ma rồi sang Thuỵ Sĩ. Thần đi bằng tàu của Bồ-đào-nha, loại tàu tốt nhất châu Âu thời đó. Thần không bị thần chết ngoài biển đe doạ như đại nhân. Chuyển đi Mĩ của đại nhân ổn cả chứ?
- Gian khổ ngoài sức tưởng tượng, nhưng rất may là trót lọt - Fukuzawa nói - Trở về nước được mấy tháng thì hiền đệ lại sang châu Âu. Liên tiếp trong ba năm 1861 - 1863, hiền đệ đã qua Anh, Pháp, Hà Lan, Đức, Bồ-đào-nha, Nga. Với tư cách là người phiên dịch, nhưng chủ yếu hiền đệ tận dụng triệt để thời gian nghiên cứu cung cách làm ăn và xây dựng đất nước của các xứ xở ấy. Có đồng nào trong túi, hiền đệ đưa ra mua sách cho bằng hết!
- Ô, thưa đại nhân - Nguyễn Trường Tộ vỗ tay mấy cái biểu lộ sự đồng cảm - Thời kỳ đó thần cũng ở Pháp, được học về những vấn đề căn cốt nhất để xây dựng và cai quản một quốc gia văn minh.
- Hiền đệ đọc tài liệu cũng biết sư huynh học ở Pa-ri - Fukuzawa nói - Sư huynh học trường ốc cơ bản hơn hiền đệ. Hiền đệ chủ yếu học lỏm, học mót thôi.
- Thế mà khi về nước đại nhân lại làm nên chuyện! - Nguyễn Trường Tộ nói, gương mặt trắng xanh thoáng buồn - Còn thần, mọi thứ học được coi như bỏ đi cả!
- Đó chính là điều khó hiểu mà trong chuyến viếng thăm này hiền đệ muốn biết đấy - Fukuzawa nói - Hiền đệ có nghe nói, sau khi từ Pháp trở về nước, sư huynh đã liên tiếp viết những bản điều trần đệ trình lên vua Tự Đức, đúng không?
- Đúng thế - Nguyễn nói - Thần đã viết tới ba mươi văn bản đệ trình lên vua đề xuất những giải pháp canh tân đất nước. Ngoài ra, thần còn viết ba mươi văn bản đề cập tới nhiều lĩnh vực khác nữa.
- Sư huynh có thể nói với hiền đệ vài ba nét chính về những bản điều trần được không?
- Chẳng hạn, bản điều trần có tên là Tế cấp luận, thần đề cập đến việc mở cửa thông thương với phương tây, được đánh giá là "thâu tóm trí khôn 500 năm của thiên hạ”. Muốn có con người thực thi điều đó thì phải bắt đầu từ giáo dục. Thần viết bản điều trần có tên là Về việc học thực dụng, trong đó chỉ trích, phản đối cách học tầm chương trích cú, dùi mài Tứ thư, Ngũ kinh thi thố cốt để có bằng cấp ra làm quan. Thần đề xuất việc học thực hành những tri thức về công nghệ, nông nghiệp, địa lý, thiên văn, pháp luật…nghĩa là tất cả những gì cấu thành và làm nên một xã hội làm ăn, phát triển, được đảm bảo bằng một hiến pháp và chế độ dân chủ nghị viện!
- Tuyệt vời! - Fukuzawa reo lên - Nhưng nghe nói tất cả những bản điều trần của sư huynh đều bị vua Tự Đức thờ ơ, chê bai, đúng không?
- Không, vua Tự Đức không một lời chê bai - Nguyễn nói - Không những thế, ngài còn ban thưởng cho thần! Vào tháng 8 năm 1866, sau khi thần dâng bản điều trần Về việc mua thuyền và đóng thuyền máy và bản Kế hoạch khai thác tài nguyên đất nước, thần cùng giám mục Gauthier đến Huế chuẩn bị sang Pháp, vua mời thần và giám mục vào tiếp kiến thân tình. Thần quan niệm, được vua tiếp kiến cũng là một đặc ân, một sự ban thưởng. Năm 1868, từ Pháp trở về nước, thần dâng vua tám bản điều trần gọi là Tế cấp bát điều, trong đó có bản Tế cấp luận, vua còn ban thưởng cho thần mấy nén bạc. Có điều, ngài ban thưởng nhưng ngài không nhắc gì đến các bản điều trần!?
- Hay là có sự ghen ăn tức ở rồi thọc gậy bánh xe từ phía các quan trong triều? - Fukuzawa hỏi.
- Cái đó thì thần không được biết - Nguyễn nói - Đã không biết thì thần không thể làm chứng dối.
- Cái thể chế mà việc học chỉ với mục đích lấy bằng làm quan - Fukuzawa nói - mà làm quan lại gắn liền với tiền tài bổng lộc, quan to bổng lộc to, quan bé bổng lộc bé, thì cái sự ghen ăn tức ở, tàn mạt, ám hại nhau là ghê gớm lắm. Trong cung vua phủ chúa tôn nghiêm mà con giết cha, anh giết em, chồng hãm hại vợ, bạn bè phản phúc nhau. Đất nước Nhật Bản của hiền đệ dưới chế độ Mạc Phủ cũng vậy thôi. Chỉ đến khi công cuộc Minh Trị duy tân được đẩy mạnh, chế độ quân chủ lập hiến ra đời thì cái thói xấu ấy mới mất dần đi.
- Thần biết - Nguyễn Trường Tộ nói - thói ghen ăn tức ở trong cung vua phủ chúa ở đất nước thần là rất nặng nề, nên thần không ghi danh ứng thí một trường thi nào. Không cần bằng cấp nghĩa là không cần một chức quan, dù là nhỏ nhất trong triều. Thần phải "hy sinh” như thế cốt để vua và các quan nhìn những bản điều trần của thần không nhuốm một tham vọng nào ngoài động cơ canh tân đất nước!
- Hồi ấy - Fukuzawa nói - Ở Nhật Bản, triều đình Mạc Phủ cũng bảo thủ khủng khiếp. Với hệ thống quan lại khổng lồ, chính sách bế quan toả cảng cùng với chế độ gia đình trị Tokugama đặc quyền đặc lợi lộng hành, đã đẩy đất nước của hiền đệ vào một thảm trạng: nông dân bị cướp đất, bị lưu manh hoá, gây ra những nạn đói lớn, châm ngòi cho những cuộc biểu tình, những phe nhóm nổi dậy chống đối chính quyền. Cũng giống như sư huynh, để tránh sự soi mói, đố kỵ, hiền đệ từ chối mọi lời mời tham gia triều chính. Hiền đệ chỉ ngồi dịch những cuốn sách mang từ châu Âu về và viết ra những cuốn sách khác, chẳng hạn như các cuốn Văn minh khái luận, Sự tình phương tây, Đổi mới lòng dân…Nói chung những điều hiền đệ viết cũng không khác mấy những bản điều trần của sư huynh. Có những luận điểm thần đưa ra rất "nghịch lỗ tai” như "Độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân”, và "Coi trọng quốc gia, coi nhẹ chính phủ”. Hiền đệ lập luận rằng, chính phủ này lạc hậu có thể thay thế bằng một chính phủ khác tiến bộ hơn, nhưng quốc gia mà không trường tồn, mà vong bản thì có nghĩa là không còn gì cả. Đặc biệt là bài báo Thoát á luận hiền đệ vừa cho công bố đã gây sự phản ứng gay gắt từ phía chính quyền Mạc Phủ. Có điều tất cả những gì hiền đệ viết hoặc chuyển ngữ, hiền đệ không dâng lên vua. Một ông vua độc tài, vị tất gì đã cần đến những sách đó! Thay cho việc dâng vua, hiền đệ mở trường tư thục Keio Gijuku, sau này trở thành trường đại học Keio nổi tiếng nhất Tokyo. Tất cả nhưng sách hiền đệ viết và dịch không những được dậy trong trường cho sinh viên mà người dân nào có nhu cầu đều có thể được đọc. Hiền đệ lập ra tờ báo có tên là "Thời sự tân báo” để quảng bá rộng rãi những tác phẩm ấy, khuyến khích cho công cuộc duy tân. Hiền đệ còn lập ra một hội, gọi là hội Meirokusha, tập hợp tất cả những trí thức tài năng có xu hướng đổi mới đất nước tham gia viết sách, dịch sách, tổ chức hội thảo, diễn thuyết cho tư tưởng canh tân thấm sâu xuống mọi người dân.
- Đại nhân làm được như thế nên rất xứng đáng được nhân dân tôn vinh là "Von-te của Nhật Bản”, là "Người khai sáng tinh thần quốc dân Nhật”, là "Linh hồn của công cuộc Minh Trị duy tân”…
- Sư huynh biết điều đó từ khi nào? - Fukuzawa ngạc nhiên hỏi.
- Các kỹ sư của hãng Yamaha, một lần đến thắp hương mộ thần, trong khi khấn vái, họ đã cho thần biết như vậy - Nguyễn nói - Họ còn đặt trên mộ thần một tờ bạc mười ngàn yên, tờ bạc có mệnh giá lớn nhất nước Nhật, trong đó không in hình Nhật Hoàng hay thủ tướng mà lại in chân dung đại nhân, một người không hàm tước!
- Mấy anh kỹ sư hãng Yamaha cũng đến dâng hoa, thắp hương trên mộ phần của hiền đệ - Fukuzawa nói - họ cho hiền đệ biết cái danh Nguyễn Trường Tộ của sư huynh vẫn được lưu truyền trong sử sách của đất nước này!
- Quả có thế - Nguyễn nói - Mở các pho chính sử hay dã sử đều có nhắc đến thần. Không ít lần vong linh thần lang thang đây đó thì bắt gặp cả những ngôi trường, những đường phố mang tên thần. Mỗi lần như thế thần lại mang mặc cảm rằng mình không xứng đáng.
- Người đời sau tôn vinh sư huynh là có cái lý của người ta - Fukuzawa nói - Còn người cùng thời với sư huynh thì sao? Vì sao người ta lại lạnh nhạt với những nhiệt huyết của sư huynh đến vậy? Giá như ngày ấy, thay vì dâng những bản điều trần lên vua, sư huynh dịch sách, mở trường, lập hội, ra báo…như hiền đệ đã làm bên Nhật Bản thì có sao không?
- Thực tế thì thần cũng có làm một số việc - Nguyễn nói - Không có thực lực như đại nhân, thần phải dựa vào nhà thờ mà làm. Những năm 1864 – 1866, thần cho xây bốn ngôi nhà theo phong cách kiến trúc châu Âu trong khuôn viên toà giám mục Xã Đoài để chuẩn bị cho một ngôi trường ra đời. Nhưng thật không may cho thần. Giá như thần cứ ngồi viết điều trần rồi dâng lên vua thì còn được ban thưởng, đằng này cứ bắt tay vào làm việc gì là bị nghi ngờ. Ngay cả những tác phẩm của Von-te, Rút-xô, Ra-bơ-le mang từ bên Pháp về, thần cũng phải giấu kín, chưa có cơ hội chuyển ngữ. Thần là người theo đạo Thiên Chúa. Vua Tự Đức lại rất không thích đạo này. Ngài không thích đạo Thiên Chúa và không thích luôn cả nền văn minh châu Âu. Chuyện cấm đạo ở đất nước của thần bắt đầu từ thế kỷ mười sáu, khi các giáo sĩ châu Âu sang truyền đạo, nhưng cấm gay gắt nhất phải kể dưới thời Tự Đức!
- Chuyện cấm đạo Thiên Chúa thì ở bên Nhật đâu có khác gì Việt Nam - Fukuzawa nói - Ngay từ năm 1613, chính quyền Mạc Phủ đã ban hàng loạt chỉ dụ cấm đạo. Các giáo sĩ nếu không bị xử tử thì cũng bị trục xuất. Có thời kì hà khắc đến độ bất cứ người Âu nào từ dưới tàu bước chân lên bãi biển Nhật Bản đều bị chém mà không cần xét xử. Hàng ngàn tín đồ Thiên Chúa giáo bị thiêu sống. Nhất là vào năm 1639, sau khi có những cuộc biểu tình của dân chúng, Mạc Phủ nghi ngờ có bàn tay của các tín đồ Thiên Chúa, đã ra lệnh đóng cửa hoàn toàn với phương tây, làm cho Nhật Bản trở thành một quốc gia tự khép kín, quay lưng lai với thế giới suốt 200 năm. Cho đến tận những năm chuẩn bị cho công cuộc duy tân, dưới sức ép mạnh mẽ của những người trong hội tây học, đạo Thiên Chúa mới được hoạt động bình đẳng với các đạo khác. Những trí thức tây học lập luận rằng: Thiên Chúa là quốc đạo của phương tây, ngay cả các tổng thống Mỹ trong lễ nhậm chức còn phải đặt một bàn tay lên cuốn Kinh Thánh và đọc 10 lời răn của Chúa, trong khi ta đang muốn học tập họ để canh tân đất nước mà ta lại tẩy chay Đức chúa Giê-su của họ thì có khác gì ta muốn chơi với Ấn Độ mà lại tẩy chay Phật Thích Ca Mâu Ni?
- Vào cái thời điểm mà Nhật Bản huỷ bỏ chuyện cấm đạo thì trên xứ xở xủa thần, việc cấm đạo lại diễn ra ghê gớm chưa từng thấy - Nguyễn nói - Vua ra giá cho những ai bắt được một giáo sĩ châu Âu sẽ đựơc ban thưởng 30 nén bạc. Các giáo sĩ mà người ta bắt giao nộp đều bị buộc đá vào cổ ném xuống sông hoặc chém đầu cho dân chúng xem. Các tín đồ mà không chịu dẫm đạp lên tượng thánh, hứa bỏ đạo thì sẽ bị thích chữ vào mặt, cho đi đầy nơi rừng thiêng nước độc!
- Hiền đệ cho đó là một trong những căn nguyên mà những bản điều trần "vị phương tây” của sư huynh không được vua mặn mà đón nhận! - Fukuzawa nói - Hiền đệ lại còn nghe mấy anh kỹ sư của hãng Yamaha cho biết, vua Tự Đức là một nhà thơ, đúng không?
- Phải, ngài là một thi nhân, có những bài thơ ngài sáng tác được lịch sử lưu lại - Nguyễn nói - Ngài còn thò bút vào sửa Truyện Kiều của Nguyễn Du nữa! Tuy nhiên, sau khi ngài qua đời, bản sửa của ngài đã không được hậu thế đón nhận!
- Nhà thơ có một đặc điểm nổi trội là luôn hướng thiện, tôn vinh cái đẹp, cái tiến bộ - Fukuzawa nói - thế mà vị hoàng đế nhà thơ mà chúng ta đang nói đến lại có xu hướng tẩy chay nền văn minh rực rỡ của châu Âu thế kỷ mười chín, để rồi tự thu mình trong cái vỏ ốc tranh tối tranh sáng có tên là kinh thành Huế, biến cả đất nước thành một ốc đảo, quả là một hiện tượng lạ!
- Có người vì ngộ nhận về cái danh "nhà thơ” của vua mà còn bị tước đi mạng sống nữa đấy - Nguyễn nói - Tự Đức vốn rất thích đi săn. Một lần đi bằng thuyền, con thuyền luồn lách trong những sông suối vào khu rừng cấm có tên là Thuận Trực, cách kinh thành Huế không xa. Thuyền vào đến cái hồ nhỏ, Tự Đức nhìn thấy con chim gù đậu trên một khóm cây đang cất tiếng gáy rộn ràng, ngài dương khẩu súng hai nòng lên bắn đoàng một cái. Con chim trúng đạn, xã cánh rới xuống mặt hồ. Mấy người lính cấm vệ chèo thuyền về phía đó. Người cung nữ theo hầu vua bước về phía mũi thuyền cầm cây sào khều con chim. Sống khép kín trong cung lâu ngày, khi được theo vua đi săn, lại nghe tiếng vua là nhà thơ, nàng cung nữ tỏ ra vô cùng phấn chấn. Nàng vừa khều con chim vừa reo cười với vẻ thích thú. Nàng muốn đánh thức, khơi gợi trí tưởng tượng lãng mạn của "nhà thơ”. Nhưng thật tội nghiệp cho nàng, vua lại tỏ ra rất khó chịu về tiếng cười đó. Ngài cau mặt lại, đôi mắt trắng đục của ngài trợn ngược lên, chân bước về phía mũi thuyền. Nàng cung nữ vô tư vẫn chưa dừng tiếng cười. Vua liền chĩa khẩu súng hai nòng vào lưng, chỗ có phổi và tim nàng, bóp cò. Súng nổ. Nàng cung nữ kêu rú lên một tiếng man dại rồi ngã đổ xuống hồ…
- Hu-u-u…- Fukuzawa thốt lên một tiếng như nhại lại tiếng kêu rú của nàng cung nữ mà ngài hình dung qua câu chuyện của Nguyễn.
- Chưa hết - Nguyễn kể tiếp - Một lần Tự Đức ngủ trưa, có người cung nữ trẻ đứng hầu quạt. Nhìn nhà vua ngủ, trong trái tim bồng bột của nàng dâng lên một cảm xúc rất con người. Nàng tự nói với mình: "Ngài là nhà thơ nên gương mặt ngài trông thật lãng mạn, đáng yêu quá chừng!”. Nàng bước gần lại, đặt một cái hôn nhè nhẹ lên má vua. Không ngờ vua thức giấc. Ngài nổi giận lôi đình, gọi các quan Bộ hình vào, ra sắc lệnh "Chiểu theo điều luật về tội phạm thượng mà xử trảm!”. Ngay tức khắc người ta trói quặt hai tay nàng về đàng sau, áp giải nàng ra một bãi cỏ nơi pháp trường. Nàng chỉ kịp gọi "mẹ ơi cứu con” thì cái đầu của nàng đã bị văng ra khỏi cổ!
- Hu-u-u…- Fukuzawa lại kêu lên thảng thốt - Với các cung nữ "phạm thượng”, vua nghiêm khắc nhường ấy, còn bình thường thì vua ứng xử thế nào?
- Vua sở hữu rất nhiều đàn bà. Trong cung cấm lúc nào cũng có ba trăm người, cả hậu, phi và các cung tần - Nguyễn nói - Có lẽ vua không thích đạo Thiên Chúa còn vì điều này, bởi Thiên Chúa chỉ cho phép hôn nhân một vợ một chồng!
- Nhưng chuyện chăn gối của vua với các bà các cô có êm đẹp không? - Fukuzawa hỏi, giọng pha chút hài hước.
- Nói chung là êm đẹp - Nguyễn nói - Không ít phen ngài giao cấu với ba, bốn cung nữ trong cùng một đêm. Thường thì sau những đêm như thế, ngày hôm sau ngự triều, mặc các quan ra vào thưa gửi, mặc súng đại bác của giặc nổ ngoài cửa sông cửa biển, ngài cứ ngồi nghoẹo đầu trên ngai vàng mà ngủ! Khi ngủ say, ngài kéo gỗ vang cung điện, hai bên mép sùi ra hai cục bọt trắng và to như hai cái tổ con chẫu chàng!
Dù còn đang xúc động trước cái chết của hai cung nữ, Fukuzawa cũng phải bật cười về "hai cái tổ chão chàng” ngự hai bên mép vua. Ngài hỏi:
- Đường thê thiếp hùng hậu nhường ấy, hẳn vua rất nhiều con?
- Rất tiếc, vua lại không có một mụn con nào - Nguyễn nói - Có thể ngài hay triệt hại cung nữ trẻ nên trời bắt ngài chịu nỗi thua thiệt ấy chăng!
- Ở bên Nhật Bản thời đó - Fukuzawa nói - Vua cũng có hoàng hậu và các phi tần. Nhưng phi tần ít thôi. Phải ít người đẹp bấu víu thì vua mới giữ được sức khoẻ và cái đầu minh triết mà lo việc vương triều. Nói chung các vua bên xứ xở của hiền đệ, dù là ông vua tồi nhất, cũng không bao giờ để việc ham hố tửu sắc lấn át việc trị nước! Nghe chuyện của sư huynh đến đây, hiền đệ đoán rằng, những bản điều trần mà sư huynh dâng vua, chưa chắc ngài đã đọc, hoặc có đọc thì đọc chiếu lệ thôi!
- Phải, có thể là như thế lắm - Nguyễn nói - bởi hai lần vua ban thưởng cho thần, nhưng ngài chẳng nói gì đến nội dung các bản điều trần!
- Cuộc viếng thăm hôm nay, hiền đệ mới vỡ nhẽ ra một điều - Fukuzawa nói - cái đầu mang tư tưởng canh tân của sư huynh và hiền đệ rất giống nhau, chỉ khác nhau ở cách làm thôi. Sư huynh viết và dâng lên vua tới sáu mươi bản điều trần, nghĩa là sư huynh còn muốn cứu chữa cái triều đình đã suy mạt ấy. Còn hiền đệ, khi nhận thấy chính quyền Mạc Phủ đã như một con bệnh tận số, hiền đệ chỉ mong cải tạo tư tưởng, nâng cao dân trí, để thúc đẩy hình thành một chính quyền mới tân tiến hơn, đó là thiên hoàng Minh Trị!
- Cám ơn đại nhân - Nguyễn nói - hôm nay đại nhân đã cho thần biết một bí mật mà hơn trăm năm nay thần thao thức không nguôi!
Fukuzawa không nói thêm gì nữa. Cả Nguyễn Trường Tộ cũng vậy. Hai người ngồi lặng trong nỗi niềm cảm thông sâu sắc mà ấm áp, giữa khung cảnh gió mây ngoài kia đang vần vũ biến đổi./

Hà Nội, đầu hạ 2011.

Lên đầu trang   Trở lại  
 
Vui lòng điền thông tin và gửi đến chúng tôi!
Họ & tên     Email  
Tiêu đề     Mã bảo mật  
 
Thư viện Truyện ngắn
Chiếc Nhẫn Bí Mật - Ngọc Châu - 03/03/2013
Cành Đào Phiên Chợ Cuối Năm - 09/02/2013
Nghệ nhân - Truyện ngắn Ngọc Châu - 15/12/2012
“MI NU” NGỐC NGẾCH Truyện ngắn: Lê Bá Hạnh - 07/12/2012
Bay lên đi ước mơ (Truyện ngắn Hòa Văn) - 03/12/2012
XẮP XẮP Truyện ngắn của Võ Anh Cương - 01/12/2012
Nhà thương điên (truyện ngắn Đàm Lan) - 26/11/2012
Nước mắt phố phường (Truyện ngắn của Trọng Bảo) - 24/11/2012
Bác tôi - Truyện ngắn của Nguyễn Minh Khiêm - 22/11/2012
Thằng hèn - Nguyễn Thế Duyên - 20/11/2012
Mái tóc- Truyện ngắn của Vugia - 18/11/2012
Bến An Lành - Truyện ngắn Hòa Văn (tt) - 16/11/2012
Con gái xứ Đoài - Truyện ngắn của Phạm Thị Phong Lan - 15/11/2012
Truyện ngắn Bến An Lành Truyện ngắn Hòa Văn - 12/11/2012
MỐI TÌNH HOA CẨM CHƯỚNG - Truyện ngắn của Võ Anh Cương - 09/11/2012
Đùa - Truyện ngắn. Thái Bá Tân - 08/11/2012
ĐOẠN KẾT MỘT MỐI TÌNH Truyện ngắn của Nguyễn Một - 04/11/2012
QUỐC CA (Hoàng Thảo Chi) - 30/10/2012
Câu chuyện về một chú dế lửa (Nguyễn Bá Trình) - 26/10/2012
Nhân quả (Truyện ngắn Thái Bá Tân) - 20/10/2012
Trang 1/12: 1, 2, 3 ... 10, 11, 12  Sau
 
Tin bài mới nhất
Nội dung bình luận
THỎA TẤM LÒNG - Từ Đức Khoát - 06/12/2012
Thơ - dạo Tây Hồ - Trần Đình Thư - 06/12/2012
Nhắn tin - nguyenthiphung - 05/12/2012
Xúc động ! - Nguyễn Phước - 04/12/2012
ghen - đăng trình - 04/12/2012
Cảm ơn chị Phụng - Đàm Lan - 04/12/2012
nhận xét - NGÔ TOÀN THẮNG - 03/12/2012
SỬA LẠI BÀI HOẠ - Ngô Thái - 03/12/2012
Nhan qua - Thanhnhan - 02/12/2012
Bạn đọc - Pham Minh Giắng - 30/11/2012
Ý Tưởng Mỹ Thuật - Thiết kế Web
Nước khoáng Tip Top