TRẢNG VƯƠNG
Truyện ngắn của Trần Như Luận
1.
- Xung
phong!... Xung phong!... Xung phong!...
Hàng loạt tiếng hô long trời lở đất vang lên từ bốn phía giáp công. Bốn nghìn quân hùng hậu của nguyên soái Mịch Kha nhào lên như vũ bão. Họ quyết một phen chiếm lấy thành Đô Va. Phía trên thành, lực lượng kháng cự đang ra sức chuyển vũ khí để tập kết vào những nơi xung yếu. Dưới ánh trăng trung tuần, hàng trăm ngọn đuốc sáng rừng rực cứ nhấp nhô, lốm đốm, ồ ạt, lung linh ở cả bốn mặt thành. Tất cả tạo nên một cảnh tượng ảo huyền, tráng lệ chưa từng có.
Mịch Kha chễm chệ trên yên ngựa. Thanh gươm sáng
nhoáng của gã ánh lên muôn hào quang rực rỡ. Võ tướng Mặc Kỳ, vai đeo đoản đao,
lao mình tới trước. Trên tay hắn là ngọn cờ quân lệnh ngũ sắc phấp phới tung
bay. Đội quân nhạc vang lên bản hùng ca bất tận.
Đây là loạt tấn công thứ tư trong ba ngày qua.
Mịch Kha vẫn còn thừa hăng hái để xua quân vào trận. Đội do thám cho hay phía
trong thành vẫn còn tới gần sáu nghìn dân và ba nghìn binh lính. Tên tướng giặc
miệng hùm gan sứa Võ Ưu vẫn chưa chịu buông vũ khí đầu hàng. Mịch Kha và đám
tinh binh lao tới còn cách cổng Tây chừng ba dặm thì bắt gặp một tốp đàn bà,
trẻ em và bô lão. Họ có tới gần một trăm người cả già lẫn trẻ. Ai nấy mặt mày
hớt hơ hớt hãi, lầm lũi cúi đầu chạy như
một đám súc vật sổng chuồng.
Mặc Kỳ quát tháo inh tai. Hắn ào tới, dạt đám
người ô hợp ra bốn phía rồi ngẩng đầu lên trời, cười hô hố, chẳng biết để làm
gì. Hàng chục đứa trẻ lạc mẹ khóc la ơi ới, nghe như một bản hỗn ca buồn não
nuột. Mịch Kha thốc ngựa lao lên. Tiếng hô của gã hung hãn, khô khốc, vang dội
cả một góc thành. Sau hai con chiến mã là một rừng binh sĩ khí giới
sáng choang đang hăng say lao tới. Mịch Kha cho ngựa đứng ngay giữa cổng thành,
réo gọi tên cúng cơm của tướng giặc Võ Ưu, cố buộc hắn tức tốc mở cổng thành.
Nhưng phía địch, ngoài sự di chuyển mà ở xa cứ
tưởng như vô cùng chậm rãi, tuyệt nhiên không nghe một tiếng động nào. Cả bốn
cổng thành đều đóng bít bưng. Mịch Kha tức khí chửi thề ỏm tỏi rồi thúc quân
phá cổng thành. Một cây gỗ to lớn được đám binh lính hùa nhau lăn tới. Cùng với
tiếng hô dữ dội, ba chục tên lính hùng hổ tụm đầu
thúc mạnh cây gỗ nặng nề vào ngay chính giữa cánh cổng thành.
- "Rầm... rầm... rầm!”
Hàng loạt âm thanh chát chúa. Mịch Kha kinh ngạc nhìn
thấy hàng chục binh lính lăn ra chết thê thảm dưới sức công phá của hàng nghìn
tảng đá lớn nhỏ bất ngờ lăn xuống từ phía trên thành! Gã chưa kịp quan sát gì
thêm thì một tảng đá lớn ập xuống ngay trước mặt. Con ngựa chiến hí lên man rợ.
Không nao núng, Mịch Kha lệnh cho binh lính lui về cách cổng thành chừng nửa
dặm rồi tiếp tục tìm mọi phương cách phá thành. Nhưng quân của gã chưa di
chuyển được bao nhiêu thì đã thấy từ trên cao ném xuống hàng nghìn khối lửa
khổng lồ. Gã tận mắt chứng kiến binh sĩ chết cháy như rạ, miệng ngớ ra không
biết phải xử trí thế nào.
Căm hờn giục căm hờn, gã nguyên soái trẻ hét vang ba
tiếng "xung phong” rồi giục hai mươi tốp lính hỏa công phi ngựa lao tới bắn
hàng nghìn mũi tên lửa lên phía thượng thành. Cuộc xung đột diễn ra cực kỳ gay
cấn. Hết những tảng đá khổng lồ lại tới lượt những khúc gỗ to và hàng vạn mũi
tên tẩm dầu bốc lửa bay xuống vèo vèo. Lớp chết, lớp bị thương nằm la liệt
vướng cả chân ngựa. Dõng tai lên phía thượng thành, gã cũng không ngớt nghe
những tiếng la thất thanh, ai oán. Bên tám lạng, phía nửa cân, giằng co cho tới
hừng sáng, Mịch Kha vẫn không hề lay chuyển được thành Đô Va. Gã truyền lệnh
rút quân về doanh trại. Tính ra, số chết và số trọng thương đã lên tới nghìn
người. Mịch Kha mình đầy bồ hóng. Áo xống rách tả tơi. Chiếc mão nguyên soái
chệch cả ra sau. Thanh gươm báu chưa giết được một mống giặc cỏ nào cũng đành tra
vào vỏ. Gã lệnh cho y binh tiếp tục chăm sóc thương binh rồi uể oải bước vào
lều trại.
2.
- Bẩm Đại nguyên soái!
Mịch Kha chưa chợp mắt được vì bị ám ảnh bởi cái chết
của hàng nghìn binh sĩ thì đột nhiên nghe tiếng gọi. Ưỡn mình ngồi dậy, gã
trông thấy Mặc Kỳ khúm núm trong bộ đồ ngắn màu xám đen. Hắn
tâu:
- Đại nguyên soái ơi! Thời cơ đã đến rồi!
- Ngươi nói gì? Ngươi mớ ngủ à? - Mịch Kha vặn
hỏi.
- Quân do thám về cấp báo… Lính giặc đang lẳng lặng khiêng hàng
trăm xác đi chôn. Chúng đang mở cổng thành phía Đông! – Đôi mắt ti hí của tên
tướng liếc ngang liếc dọc. Trong âm giọng hắn thoáng vẻ vui
mừng.
- Ngươi định làm gì? Ngươi định cho quân sĩ ập vào thành trong giờ phút này
sao? - Mịch Kha lớn
giọng.
- Cơ hội nghìn năm có một. Xin đại nguyên soái chuẩn tấu! - Mặc Kỳ ngước mặt
lên. Giọng hắn run run vì lo sợ.
- Ngươi cho ta là người thế nào? Ngươi thử về hỏi lại ba đời dòng họ nhà
ngươi xem có lúc nào hậu duệ của quân sư Mịch Kính lại làm những trò tiểu nhân
như thế chưa? - Mịch Kha quắc mắt
hỏi.
- Tâu đại soái. Túng biến ắt phải tòng quyền. Nếu ta không phá được thành
thì... có khi quay trở về cũng không yên với hoàng thượng - Hắn rụt rè
tâu.
- Thôi ! Đủ rồi. Ngươi về trại
đi!
Mặc Kỳ lẳng lặng lui ra. Chợt hắn phát hiện một tên cận vệ tò mò
ngước mắt nhìn. Hắn
quát :
- Nãy giờ ngươi nghe lén à ?
- Dạ thưa không! Tôi không bịt tai nên buộc phải nghe chứ không hề chủ tâm nghe
lén – Tên lính nhẹ nhàng đáp.
- Hừ ! Mi thật láo khoét ! - Mặc Kỳ vừa nói vừa xồng xộc lôi đầu tên
cận vệ định đưa vào bên
trong.
- Xin ngài đừng làm thế! Tôi muốn nói hai điều.
- Cứ nói ! - Mặc Kỳ hống hách.
- Tôi được giao trách nhiệm bảo vệ nguyên soái. Đó là lý do tôi có mặt ở đây.
Thứ hai, tôi muốn hiến kế với ngài, ngài muốn nghe
không?
- Mi cứ nói !
- Đại soái quan tâm tới sự tồn vong của binh lính. Chỉ đem chiến công ra mà nhử
thì chẳng được gì đâu ! – Tên cận vệ nheo mắt bảo. Muốn thuyết phục Mịch
nguyên soái, ngài hãy đem tính mạng binh sĩ ra mà đặt
cược !
- Thôi được ! Ngươi đi đi...
Võ tướng Mặc Kỳ nhếch mép cười nham hiểm. Hắn cố trấn tĩnh,
bước vào bên trong.
Nghe trình bày thiệt hơn, Mịch Kha nhíu mày, bóp trán. Tờ mờ sáng, bất ngờ nguyên soái sai năm trăm tinh binh cỡi chiến mã ập vào cửa Đông thành. Tiếng tri hô vang dội hòa với tiếng khóc than thảm thiết của đám thân nhân người tử nạn biến thành nỗi kinh hoàng lớn lao không dứt. Gần cuối giờ thìn, gần bốn nghìn binh lính của Trảng vương do Mịch Kha thống lĩnh đã có mặt khắp nơi trong thành Đô Va. Hàng trăm ngọn cờ nền đen chữ đỏ của Trảng quốc phấp phới tung bay trên bầu trời Đông Vực. Thấy binh sĩ đôi bên lớp chết, lớp bị thương nằm rên la thảm thiết, Mịch Kha ngửa mặt lên trời khóc ròng.
Đoạn gã cùng đám cận vệ bước lên chánh
điện, thắp nhang khấn vái thổ
thần.
Bốn ngày sau, Mịch Kha được triệu về triều. Nhà vua ra
lệnh giao lại việc cai quản thành Đô Va cho võ tướng Mặc Kỳ.
3.
Ngày đi đêm nghỉ, phải mất tới bốn ngày bốn đêm tốp
quân của Nguyên soái mới về tới kinh thành. Trong bộ chiến bào đầy bụi bặm,
Mịch Kha cỡi tuấn mã uy nghi bước vào thành. Hàng nghìn thần dân dáo dác nhìn
đoàn quân chiến thắng với ánh mắt vừa thán phục vừa lo âu. Trong những ngày qua
có tin đồn rằng Trảng vương ngày càng đắc thắng đang muốn đẩy mạnh cuộc chiến
tấn công các nước lân bang. Sau khi chiếm Đông Vực, kế hoạch mở rộng bờ cõi sẽ
lấn sang Hạ Đô và Đại Lãnh.
Với bộ râu ria suốt một tháng trời không cạo và khuôn
mặt rầu rầu, Mịch Kha xuống ngựa, lê gót vào chánh điện. Từ trên bệ ngọc, Trảng
vương hân hoan bước ra nghênh đón. Ông cho mở yến tiệc thết đãi từ sáng tới
trưa, rồi vời nguyên soái ra hậu
điện.
Quá chán nản với những gì mắt thấy
tai nghe, Mịch Kha tâu với hoàng thượng rằng chiến tranh là điều vạn bất đắc
dĩ. Nếu muốn chiếm lãnh thổ của các nước, điều cốt yếu là phải thu phục được lòng
dân. Bá tánh theo thì giang sơn rộng mở. Bá tánh còn ơ hờ không tuân phục, vậy
là có đất mà chưa hẳn đã có dân. Trảng vương nghe vậy, trong dạ không vui. Ông
tự nhủ có lẽ Mịch Kha ỷ lại nhiều công trạng nên mở miệng nói bừa. Sau ba chung
rượu, vua tôi không gần nhau thêm mà mỗi người mỗi ý. Trảng vương cho bề tôi lui
về, nhưng trong bụng ngấm ngầm chờ dịp thị uy.
Gã nguyên soái trẻ tìm gặp cha tại tư phủ. Thân phụ
của gã là Thái sư Mịch Huệ, con trai trưởng của đại quân sư Mịch Kính. Cuộc hàn
huyên tâm đắc mãi tới lúc tắt ánh mặt trời. Thái sư mừng vì con trẻ nay đã
trưởng thành với bao chiến công hiển hách. Nhưng ngài tỏ ý lo buồn vì cuộc sống
trăm họ bất an. Nạn đói rét diễn ra khắp nơi. Cướp bóc, quấy nhiễu, tham ô
nhiều vô kể. Ngài nói :
- Con chớ cậy nhiều công cán mà tự đắc, e có ngày mang họa. Nếu Trảng vương cậy
thế quân sự, nuôi chí xưng bá đồ vương, thì cái họa đã nằm sẵn trong lòng
người.
- Dạ thưa vâng. Con cũng nghĩ như vậy. Con không hiểu tại sao tất cả triều thần
cứ thế mà khuất phục. Cái sai của vua há chẳng phải là cái sai của quần thần
sao cha? - Mịch Kha từ tốn
thưa.
- Trảng Vũ vương tính khí ương bướng. Gần đây ông ta không còn nghĩ gì tới xã
tắc. Những lời can giáng lâu nay không phải là không có. Nhưng ông nhất thiết
để ngoài tai.
- Cha rất được tin cẩn. Vậy cha có kế sách chi không cha? - Mịch Kha cầm tay
cha, tha thiết.
- Con từng học binh thư. Trong nghìn trang chỉ dạy binh pháp, không dạy nhân
pháp. Thắng trận là thắng cái nhỏ. Đắc nhân tâm mới là được
cái lớn. Muốn thu phục nhân tâm, phải dĩ đức mà an dân. Nếu tiếp tục
áp đảo thiên hạ bằng bạo lực thì mối nguy không tránh được. Tình huống hiện
nay, phải biết điều ngự chứ không phải chỉ biết xung phong.
Con hiểu ý cha chứ?
- Dạ. Con hiểu. Nhưng cách điều ngự thế nào xin cha chỉ
giáo?
- Muốn nhà vua giảm thiểu lộng binh, trong Quân
sư Bí truyền đời Mặc Vũ đế có trình bày thập bát chiêu thức. Nhưng theo cha,
chỉ có một vài chiêu áp dụng được...
- Xin cha cứ dạy.
- Phàm vua chúa hăng đánh là tại ít chịu thiệt thân. Nhiều trận cứ tưởng thắng,
mà nướng quân như rạ. Làm quân sư chỉ cần khuyến dụ hoàng thái tử trực tiếp
điều binh là hoàng thượng sẽ luôn bề cân nhắc, không hăm hở quyết chiến
nữa.
- Thật chí lý! Nhưng nhà vua chẳng có con cái gì, giờ sao cha? - Mịch Kha
nghiêng đầu trang trọng hỏi.
- Quân sư bí truyền đề ra thập nhị kế. Trong đó có kế sách phải động tới cha
nên cha không nói với con trước được – Thái sư nghiêm nghị
nói.
- Cha ơi! Nếu cha có mệnh hệ nào thì làm sao cha? .- Mịch Kha rơm rớm nước mắt,
lo lắng hỏi.
- Không tới mức đó đâu! Con chớ
lo!
Nói rồi, Thái sư vỗ vai con. Đoạn cha con từ giã.
Nguyên soái cỡi ngựa ra đường, hướng một mạch về tư dinh, nơi mà gã biết rằng
Vân Dung đang chờ đợi từng giây từng phút.
4.
Trảng Vũ vương uy nghi ngồi
giữa. Quần thần tề tựu chung quanh. Buổi đại yến tiệc kéo dài suốt từ đầu giờ
ngọ tới mãi cuối giờ dậu mà vẫn không ngớt tiếng cười nói sang sảng, tiếng chạm
ly chúc tụng và tiếng đàn địch rộn ràng. Mai đã là ngày xuất binh tiến đánh Hạ
Đô và Đại Lãnh, hai vùng lãnh thổ rộng lớn và màu mỡ nhất của Trắc Nhuệ vương.
Nhân lúc vua tôi phấn khích, hào khí ngất trời, lòng người sảng khoái, thái sư
Mịch Huệ cho lính hầu khiêng thêm hai ghè danh tửu đất Tứ Xuyên đặt ngay trước
các quan đại thần. Ngài tăng cường chạm ly cốc với tất cả các vị lão
tướng.
Trảng Vũ vương vỗ vai các thuộc hạ, dương dương tự đắc
nói:
- So với các bậc tiên vương, ta chỉ là hàng hậu sinh. Nhưng xét cho cùng, dưới
triều đại của ta Trảng quốc mới kiên cường! Thời Văn vương, đất hẹp dân đông,
quân lương cạn kiệt. Thời Mạc vương, binh đao, loạn lạc, cát cứ mười phương.
Nếu giờ đây các tướng sĩ biết cùng ta mở mang binh nghiệp thì cái vinh quang
lớn lao không lý gì lại không có được!
- Hoàng thượng phán chí phải! Hoàng thượng vạn tuế! Vạn vạn tuế! - Quần thần
bao lấy nhà vua, tiền hô hậu ủng, không khí hào sảng khôn cùng.
Mịch Huệ tiến lên tâu:
- Muôn tâu bệ hạ! Có một việc hạ thần áy náy mãi không dứt!
- Ngươi cứ nói! - Trảng vương vừa dõng dạc phán, vừa ghé lưng an tọa trên chiếc
ghế to lớn ba người ngồi không xuể.
- Dạ bẩm! Thần e rằng điều thần nói ra sẽ làm kinh động tới bệ hạ - Mịch Huệ tỏ
vẻ dè dặt.
- Không! Không! Không có gì phải e dè cả - Trảng vương xua tay.
- Bẩm hoàng thượng. Tháng trước, lúc nguyên soái xuất quân, thần có dại dột thề với lòng mình một câu mà tới giờ thần chưa giữ trọn. Hôm nay chắc là ngày thần phải đích thân thực hiện lời thề thiêng liêng đó! Nếu có gì thất lễ, xin bệ hạ tha cho tội chết! - Mịch Huệ thể hiện nét xót xa, đau đớn trên khuôn mặt đã bước sang tuổi thất tuần.
- Ha! Ha! Ha! Thoải mái đi! Chẳng cần khách khí làm chi! - Trảng vương cười
sảng khoái. Tiếng cười lanh lảnh của ông xuất phát từ sân lộ thiên, vang dội
vào đại sảnh đường và các tòa đại điện.
"Soạt... Phụp!”
Người ta chứng kiến thanh gươm sáng loáng được rút ra
từ vai của một tên vệ binh. Nhanh như chớp, Thái sư Mịch Huệ thản nhiên cầm
gươm trên tay trái tự chém đứt lìa ngón trỏ bàn tay phải. Ngón tay đầy máu lìa
thân thể lăn lóc trên tấm khăn trải bàn, ngúng ngẩy ba hồi trước khi yên vị.
Máu tiếp tục phụt thành vòi từ lóng tay bị thương của vị thái sư. Vài lão quan
thất kinh hồn vía, té xỉu giữa sân.
- Phụ thân! - Mịch Kha lao tới dùng tay áo rộng túm chặt vào bàn tay đang tóe
máu của cha.
Trảng Vũ vương đứng phắt dậy, nhìn đăm đăm vào gương mặt thản nhiên, sắc lạnh của thái sư Mịch Huệ. Nhà vua cất giọng cười khoái trá:
- Hảo hớn! Hảo hớn! Khá khen cho hiền khanh!
Nói đoạn, Trảng vương bệ vệ dang rộng đôi khuỷu tay
nâng cốc rượu to uống một hơi ừng ực. Từ trong đám đông, Khai quốc công thần
Trần Uy sấn tới gọi ngay ngự y chăm sóc vết thương cho thái sư Mịch Huệ. Thái sư
xua tay, hướng mặt về phía nhà vua, trịnh trọng tâu:
- Tâu hoàng thượng. Thần có thề rằng nếu chiếm thành Đô Va mà ta hao hụt quân
số tới một phần tư thì thần sẽ chặt phứt ngón tay để ghi nhớ rằng mình đã đưa
cả một nghìn tinh binh vào chỗ chết. Nay thần thất thố trước bệ hạ chẳng qua là
ý trời. Mong bệ hạ lượng thứ!
- Khà khà! Hảo! Hảo! Thái sư đây... quả là trang hảo hớn ! - Trảng vương
loạng choạng như muốn ngã. Các vị đại thần lúi húi sấn tới đỡ vua.
Trảng vương xua tay:
- Ô hay! Các
khanh tưởng ta say hay sao? Nè! Tất
thảy triều thần nghe ta phán đây! – Nhà vua vỗ ngực – Ngày mai Nguyên soái xuất
binh. Đêm nay dưới ánh trăng, ta thề rằng nếu đánh Hạ Đô và Đại Lãnh mà quân số
hao đi quá một phần năm thôi thì ta sẽ chặt phứt ngón tay trỏ của ta… Hà hà! Hà
hà!
- Tâu bệ hạ! Không thể như thế được! Không được! Không được! – Các nịnh thần
quay tít chung quanh Trảng vương tỏ vẻ xuýt xoa.
- Không thế nào được! - Trảng Vũ vương kiêu hãnh nói. Ta thề như thế! Ta thề như thế! Các ngươi nghe rõ chưa?
- Hoàng thượng anh minh! - Mịch Huệ, Trần Uy và Nguyên
soái Mịch Kha cùng sụp lạy. Chư tướng sĩ có mặt trong buổi yến tiệc cũng tỏ
niềm ngưỡng mộ. Tất cả quỳ xuống, tung hô vạn tuế ngất
trời.
5.
- Ấy chết! Ta
thề như thế thật sao? Các ngươi có nghe như thế thật à?
Trảng Vũ vương tự xoa đầu bóp trán. Ông lấy làm băn khoăn không nhớ mình đã thề độc về điều đó trong hoàn cảnh như thế nào.
Bao quanh
ông trong suốt mấy tuần qua là một lũ nịnh thần khom lưng cúi đầu suốt buổi.
Chúng xóc xiểm rằng phàm thiên tử thì can cớ chi phải thề nguyền bất công như
thế. Xưa nay, có bậc vua chúa nào lại đem long thể ra để đánh đổi với sinh mạng
của đám binh sĩ đâu?
Suốt ngày đêm,
Trảng vương cứ chú tâm nhìn vào ngón tay trỏ của mình. Cả khi bút phê vào các
tờ sớ dài dằng dặc. Cả khi nâng cốc đưa lên gần tới miệng. Ngay cả khi tụt quần
tiểu tiện hoặc đã êm ấm đặt lưng trên chiếc long sàn to rộng, chẳng có lúc nào
đôi mắt ông rời khỏi cái ngón tay thân thương máu thịt mà tưởng chừng như có
phần xa lạ ấy. Nửa đêm về sáng, Trảng vương cho vời Thái sư
lên, truyền hỏi:
- Nhà ngươi tinh thông sử sách, có nghe các tiên đế thề nguyền gì về chuyện này
chưa?- Tâu hoàng thượng - Mịch Huệ lễ phép thưa. Khi đại binh dấn thân nơi trận
địa, dù có người chỉ tâm niệm trong lòng, có người khí khái thốt lên cùng tướng
sĩ, nhưng đã là minh quân thì luôn xem bảo toàn binh lực là một trong những
nguyên tắc hàng đầu. Chiếm hàng trăm lãnh thổ, thôn tính hàng chục nước, nhưng
binh lính chết như rạ thì thử hỏi đó có phải là thắng lớn không? Cho nên, hạ
thần trộm nghĩ, hoàng thượng không có gì phải băn khoăn cả!
- Không! Không! Ta băn khoăn gì đâu! Nhưng ta định hỏi thật, ngươi nhớ rõ… có
ai xúi giục ta nói lên điều đó không? - Trảng vương,
trong bộ đồ ngủ lụng thụng, bước lại vỗ vai thái sư hỏi.
- Muôn tâu! Đêm hôm đó, rồi ngay cả khi làm lễ xuất binh, bệ hạ vẫn dõng dạc
thề thốt như thế mà!
- Ồ! Vậy thì đúng là ta đã cao hứng quá! Bây giờ ngươi có cách gì gỡ rối giùm ta?
Chỗ ngón tay... có đau nhiều không ? Ở tuổi khanh, khanh vẫn chịu được
sao ? - Trảng vương vừa nóng ruột hỏi, vừa tò mò sờ vào chỗ vết thương đã
lành lặn của thái sư, đôi mắt đầy vẻ lo âu.
- Tâu hoàng thượng. Hạ thần chẳng thấy đau đớn gì cả. Điều hệ trọng nhất mà
hoàng thượng nên làm là cố giữ trọn lời thề. Lời bệ hạ nói ra quả là khuôn vàng
thước ngọc. Xin bệ hạ chớ khinh xuất – Thái sư tỏ vẻ thân tình.
Bỗng, Tào công công khúm núm bước vào. Gã tâu:
- Tâu bệ hạ. Trời đã sáng rồi. Nữ tướng Phàn Huê xin vào yết kiến.
Phàn
nữ tướng lấm lét bước vào. Bà tâu rằng Mặc Kỳ được giao trấn thủ Đô Va. Hắn
ngày đêm sống bê tha, ham mê tửu sắc, bức hiếp lương dân. Tuần trước hắn say
rượu ở tửu lâu. Sau đó cãi cọ, ẩu đả rồi vung đao sát hại bốn người, gây xôn
xao, bất bình. Người dân nước Đông Vực bảo rằng quan quân nước Trảng ỷ mạnh
hiếp yếu. Tội lớn khó tha. Mong bệ rồng soi xét.
Trảng vương tỏ ra lúng túng. Ông bảo Mặc Kỳ là thân thích của Hoàng hậu. Vậy cớ sao Nguyên soái dám cả gan bắt Mặc Kỳ mà không thỉnh ý chỉ triều đình. Mặc Kỳ đáng trách một thì Nguyên soái đáng trách mười… Nhưng thôi, ta nể tình đối với Mịch thái sư đây mà tha cho tội chết.
Thái sư nghe vậy , bực tức trong lòng. Ông không thèm
bày tỏ ý kiến. Ông xin cáo lui. Khi bước ra khoảnh sân rộng , ông ngó lên
trời cười vang một mẻ.
Vua cực chẳng đã phải tạm giam Mặc Kỳ. Nghĩ tới lóng tay của mình, vua truyền Nguyên soái từ nay phải lo tấu trình quân số hàng ngày. Trong các trận sáp chiến, nếu so sánh lực lượng không có lợi thì cương quyết hoãn binh. Nhà vua còn căn dặn, nếu háo chiến háo sát để hao binh tổn tướng thì phải tự còng đầu về nộp mạng. Phàn Huê dạ dạ vâng vâng luôn mồm rồi cùng đám binh sĩ quất ngựa nước đại chạy thẳng ra trận mạc.
6.
Nửa vạn quân nước Trảng tiến vào
Hạ Đô như tiến vào chỗ không người. Mịch Kha nghi phục kích, bèn sai Phùng Thỉ
dẫn năm trăm kỵ binh vào trước để thăm dò. Quả nhiên bốn bề im phăng phắc. Toán
kỵ binh không gặp bất kỳ một kháng cự nào. Trên tất cả nẻo đường, mọi căn nhà
đều đóng cửa kín mít. Đến súc vật nuôi cũng
không có mặt ngoài đường. Sau khi cẩn trọng cho kỵ binh thị sát một vòng, Phùng
Thỉ cử hai thuộc hạ về báo tình hình yên ổn, không có phục binh.
Nguyên soái lấy làm lạ.
Chẳng lẽ bọn Mã Đa cao chạy xa bay hết rồi sao? Gã ra lệnh cho hai nghìn quân
trang bị cung tên và đoản đao, đoản kiếm ùa vào bốn cổng thành. Gã căn dặn
không có lệnh thì không được sát hại bất kỳ ai. Sau một buổi dời binh không
nhọc sức, một nửa quân số đã có mặt ở nội thành. Nguyên soái cho người giả dạng
thường dân đến đập cửa một vài nhà dọc lối đi nhưng chẳng ai chịu mở. Đột
nhiên, tin cấp báo cho hay hàng chục chiến mã tự nhiên lăn quay ra chết. Lại có
tin báo rằng hai chục xạ binh đi lấy nước uống đều biệt dạng. Đến trưa, nguyên
soái phát hiện tám con tuấn mã uống nước suối ở phía thành Tây đều đột nhiên
hộc máu chết tươi. Gã hạ lệnh tất cả chỉ được
uống nước mang theo, không ai được uống nước sông, suối, ao, hồ. Nhưng ngặt
nỗi, trời nắng như thiêu như đốt, người ngựa vừa đi đường xa vạn dặm, thử hỏi
có ai nhịn khát được ru? Thế là, hết ngựa lăn đùng ra chết, lại tới người ngã
gục bên đường.
Trảng Vũ vương hay tin
lấy được thành Hạ Đô nhưng người ngựa hao mòn, quân lương cạn kiệt thì thất
kinh hồn vía, đứng ngồi không yên. Ông ngày đêm lật các bản tấu trình từ trận
mạc, đích thân tính đi tính lại số binh sĩ hy sinh. Lúc quân số hao đi gần một
phần năm, Trảng vương xanh mặt. Ông cho mời ngay thái sư Mịch Huệ vào triều.
Thái sư tâu:
- Tình thế hiện nay,
thần xin bệ hạ sai tướng tài gấp rút chuyển thêm lương thực ra tiền tuyến. Lệnh
cho nguyên soái cấm người ngựa uống nước trong thành. Chỉ được uống ở những
nơi cách thành tối thiểu ba trăm dặm. Ai không tuân lệnh thì quyết chém,
không tha.
Nhà vua nghe phải liền
ban ngay sắc dụ. Tại thành Hạ Đô, binh lính đói khát trăm bề. Phát hiện nhà nào
cũng trữ nước và lương thực đủ dùng hai ba tháng, nhiều binh sĩ không chịu nổi
cơn khát, xông vào đánh dân trọng thương để lấy nước dùng. Mịch Kha tức giận
bắt trói hết rồi đem ra xử. Nhiều tốp quân bất phục, phản đối liên miên.
Trảng vương ốm liệt
giường. Ông nói với thái sư:
- Các tiên vương ta có đại quân sư Mịch Kính. Khanh vừa là thái sư, vừa là quân sư của ta, vậy khanh có kế sách chi để vượt qua quốc nạn này?
- Tâu hoàng thượng. Thần
trộm nghĩ bọn Mã Đa đang thi hành kế độc. Vì biết lực lượng ta đông, lại đi
đàng xa tới, nên chúng quyết không chống trả. Tên tướng đa mưu ấy có lẽ đang
mặc thường phục trà trộn trong dân. Hắn lệnh cho tất cả binh lính cất giấu hết
vũ khí và ăn ngủ với dân. Kế sách này quả là nguy hiểm.
Ôm ngực nhăn nhó, Trảng vương nài nỉ:
- Nhưng ta muốn nghe khanh đưa ra đối sách. Ý khanh thế nào?
- Có thể ra cáo dụ
thưởng nhiều vàng bạc cho bất kỳ ai bắt được Mã Đa. Sai binh lính thi nhau đào
giếng lấy nước mà dùng. Hình thành ngay một đội quân do chính người địa phương
cai quản, chỉ huy. Tất cả những việc này phải tức tốc thi hành.
Trảng vương truyền cho Mịch Kha triển khai ngay mọi việc. Khi lệnh truyền chưa tới nơi, binh sĩ đã liên tục gây hấn với dân chúng địa phương khiến cho nỗi bất hòa ngày càng sâu sắc. Thời tiết khắc nghiệt, binh lính Trảng quốc lại không quen phong thổ, trong khi nhà nào mở cửa ra cũng thấy có hàng chục khối nước dự trữ. Quân lính của Mịch Kha quá bực tức vì muốn có tí nước cũng phải đi trăm dặm. Xô xát nổ ra liên miên. Lính Trảng quốc vặn hỏi điều gì cũng chỉ nhận được những cái lắc đầu. Từ già tới trẻ, tất cả đều im ỉm, tuyệt đối không chuyện trò, không ai hợp tác với người nước Trảng.
Mịch Kha vào tá túc
trong đại dinh. Binh sĩ của gã cũng chiếm lấy những dinh thự to rộng. Tiếng là
dinh, thật ra đó chỉ là những tòa nhà bỏ hoang theo lệnh Mã Đa. Tất cả giếng
nước quanh các dinh thự đều bị nhiễm bẩn hoặc khô cạn. Mịch Kha ra lệnh cho
binh sĩ bỏ ra ba ngày đào giếng để dùng.
Một đêm nọ, nguyên soái mặc thường phục cùng với ba vệ binh ngầm mang đoản khí. Gã tìm cách vào nhà dân, chứng kiến nước và lương thực cất giấu khắp nơi. Trước thái độ lạnh lùng, cam chịu của dân, Mịch Kha lân la cất tiếng thưa chào làm quen nhưng đều thất bại. Gia chủ là một lão ông với đôi mắt giận dữ. Mịch Kha vặn hỏi chỗ ở của Mã Đa. Ông quắc mắt nói:
- Ta không biết! Có biết
cũng không nói!
Mịch Kha quay sang hỏi một thằng nhỏ chừng mười lăm tuổi. Nó nhìn lườm lườm rồi trả lời:
- Tôi không biết! Có biết cũng không nói!
Một cận binh quát:
- Ngươi phải trả lời cho ta. Mấy tên tướng giặc bây giờ ở đâu ?
- Tôi không biết ! Có biết cũng không nói !
Tức giận không kiềm chế
được, tên cận binh gí dao vào cổ bắt khai. Nhưng thằng nhải miệng câm như hến.
Lão già nhìn trừng trừng vào đám binh lính, đôi mắt căm hờn. Mịch Kha biết
chẳng làm gì được, rút về dinh.
Mặc dầu đã đào thêm được
hàng chục giếng, nhưng ít nơi trúng được long mạch để dùng. Không ít binh lính
của Mịch Kha tiếp tục chết vì uống phải nguồn nước độc. Tin cấp báo cho biết
quân số liên tục sút giảm. Trong một thời gian ngắn, Trảng vương chỉ còn là cái
xác không hồn. Ông hốt hoảng ra lệnh bỏ Hạ Đô, củng cố
binh mã, tiến đánh Đại Lãnh.
Trong lòng quyết một
phen đối mặt với tên Mã Đa quỷ quyệt, Nguyên soái ra lệnh rút khỏi Hạ Đô, nhưng
kỳ thật gã cắt đặt một đội kỵ binh bí mật ở lại chuẩn bị chiến đấu. Quả đúng
như kế sách, chỉ sau ba ngày lực lượng của Mã Đa xuất đầu lộ diện. Sẵn mối căm
thù, nhân dân thành Hạ Đô hưởng ứng nơi nơi. Đội kỵ binh đánh đâu thua đấy.
Mịch Kha điên tiết tung vào một nghìn quân nhưng gặp phải sự kháng cự quyết
liệt, lớp chết lớp bị thương không sao kể xiết.
Nghe quân lính về cấp báo, Trảng vương suy sụp tinh thần.
Tại Hạ Đô, số tướng
sĩ quyết chiến vì lòng thượng võ còn
đông. Mịch Kha quyết một phen thử thời vận. Gã
tập hợp những người quyết tử thành một lực lượng đặc biệt, dùng cung tên phi
ngựa tiến đánh. Quân Mã Đa thưa thớt nhưng nhân dân ủng hộ hết lòng. Quân Mịch
Kha có chừng bảy trăm tên, nhưng chủ yếu là tân binh, ngựa non háu đá. Cuộc hỗn
chiến diễn ra suốt hai ngày đêm. Mịch Kha đánh không lại, buộc phải rút khỏi
thành, trong lòng vô cùng ấm ức.
Theo lệnh vua, đại quân
tiến vào thành Đại Lãnh sau ba ngày hai đêm rong ruổi. Để củng cố binh lực,
nguyên soái cho đóng quân cách thành hai trăm dặm. Cuộc tiến công gặp phải sự
kháng cự vô cùng quyết liệt. Sau hai ngày kiên cường tử thủ, thấy quân sĩ chết
như rạ, Trắc Nhuệ vương uy nghiêm tự trói mình nộp mạng. Đại quân Trảng quốc
reo mừng chiếm lấy các đại dinh. Điểm lại quân số, Mịch Kha đau lòng thấy chỉ
còn non phân nửa. Gã làm lễ tế thiên địa, cắt đặt đâu vào đấy rồi cho quân về
báo tin thắng trận cho Trảng Vũ vương.
Đại Lãnh là mảnh đất màu mỡ, bạt ngàn. Nông gia phát triển trù phú. Quanh thành buôn bán sầm uất. Lấy được Đại Lãnh còn hơn lấy được ba cái thành cỏn con như Hạ Đô. Trảng vương phấn khích ra mặt. Ông ra lệnh mở yến tiệc thết đãi bọn quân báo. Nhân lúc vui vẻ, ông chợt nhớ tới việc kiểm tra quân số. Nhà vua cất tiếng hỏi:
- Những lần trước các
ngươi luôn trình báo số quân. Nay chỉ báo đại thắng, không báo quân số. Cớ làm
sao vậy?
- Tâu bệ hạ. Về việc đó
đại nguyên soái sẽ về tâu rõ. Xin bệ hạ an lòng – Tên lính lễ phép tâu.
- Không được! Ta muốn
biết ngay bây giờ! Các ngươi giấu ta phải không? - Trảng vương trừng mắt hỏi.
- Dạ… muôn tâu. Điều đó thần phải tuân lệnh nguyên soái, không dám hở môi. Xin bệ hạ chớ vội – Tên lính khép nép tâu.
- Không được! Ngươi phải khai ra ngay bây giờ! Đó là việc rất quan trọng đối với ta! - Trảng vương càng nói càng giận dữ.
- Xin bệ hạ…tha cho tội chết. Thần... không dám – Tên lính sợ hãi vừa khóc vừa quỳ sụp xuống tâu.
- Ngươi là tên lính dại dột! Chẳng lẽ nguyên soái lớn hơn ta sao? Ta bảo khai mà không khai thì phải trảm ngay! - Trảng vương quát vang trời. Quai hàm và hai cánh tay run lên vì giận dữ.
- Muôn tâu! Muôn tâu bệ hạ! Quân số… bây giờ chỉ còn… chưa đầy một nửa. Xin bệ hạ chớ kinh động…
- Trời ơi! Vậy mà các ngươi gọi là đại thắng ư?
Nhà vua tức lồng lộn. Giọng nói oang oang truyền nhanh vào không gian tĩnh mịch. Mặt mày đỏ như gấc, ông ra lệnh đuổi hết bọn lính tráng cho khuất mắt, dẹp phứt mọi bày biện vô nghĩa trên bàn. Chỉ sau ba ngày, người ông khô quắp lại như con thú chết khô trong rừng nhiệt đới. Thái sư Mịch Huệ và Hoàng Hậu xin vào yết kiến ông cũng không cho. Trong cơn mê sảng, ông cứ liên tục đưa bàn tay lên nhìn mơ mơ hồ hồ rồi quát hỏi:
- Ngón tay của ta…
ngón tay của ta… còn không?
Tin hoàng thượng
băng hà loan ra đúng mười ngày sau ngày toàn quân đại thắng.
T.N.L












