Thành viên mới
Tìm kiếm
Đăng ký nhận tin
TamQuoc.vn
Thúy Lan - Truyện thơ của Lê Hữu Bình
 

Lang thang cố xứ - Tản văn Ngô Phú Thiện

Lang thang cố xứ -  Tản văn Ngô Phú Thiện
VANTHOVIET.COM »
23/04/2012 | 11:50
Như trưa hôm nay, cái duyên bất chợt cho tôi gặp “người bạn đồng hương” cu ngói, giữa phố đông người. Tiếng “cúc cu...” quen thuộc ấy thực sự đã tắm mát hồn tôi trong giấc trưa lang bạt. Giai điệu lảnh lót của chú chim xa xứ không còn là khúc tiễn đưa mà là cung trầm xao xuyến mời gọi trở về.

                           LANG THANG CỐ XỨ

                                                                            Tản văn Ngô Phú Thiện

        

 

        Sau một buổi đường nóng rát, tôi tạt vào nhà ông bạn cùng quê lên thành phố lập nghiệp. Nhất cử lưỡng tiện, vừa thăm bạn thời nối khố vừa tìm chỗ nghỉ trưa luôn thể. Nhìn ngôi nhà biết chủ nhân giờ đã khấm khá. Bạn bè cốt quê vốn không khách khí, sau vài câu "tao- mày” tôi xin chủ nhà tìm cho chỗ ngả lưng. Biết tôi không nghiện mấy thứ tiện nghi, nên thằng bạn dẫn tôi lên căn gác thông thoáng trên lầu. Căn gác lộng gió như bãi biển. Vừa đặt lưng xuống chiếc ghế bố êm ái bỗng,  đâu đây nghe tiếng chim cu gáy rất gần. Mặc cho đôi mắt đòi khép lại, tôi vẫn cố chồm dậy. Lạ nhỉ ! Cố nhìn trước, nhìn sau vẫn không thấy có lồng chim nào chung quanh? Hóa ra, giữa chốn phố phường này vẫn còn chú chim cu nào đấy đang tung hứng tự do giữa trưa hè.

       Cúc cu; cúc cu...cù ! Đều đặn, ngân nga như khúc nhạc trầm trong nền âm thanh của xe cộ hổn độn, xô bồ trên phố. Mặc dù giấc trưa không cưỡng được, nhưng hình như hai lổ tai vẫn không chịu đi ngủ. Tôi mơ màng nghe và mơ màng thấy cả dáng chú chim cu gáy, trên cành dương liễu sau nhà ở quê. Gọi là nghỉ trưa cho qua cơn say nắng, nhưng thực chất tôi đã đẩy một giấc tràn trề hơn cả tiếng đồng hồ. Và trong buổi trưa ngẫu nhiên ấy, trong tôi đích thực được sống lại những năm tháng với quê nhà, tưởng chừng đã từ lâu phai nhạt.

 

       Ngày ấy, tôi và thằng bạn có mái đầu điểm bạc- mà giờ đây tôi đang ngủ nhờ- kết thân nhau lắm. Nhà tôi ở cuối xóm, nhà nó ở đầu làng, nhưng hai đứa có cảnh ngộ chung là mồ côi cha. Tất nhiên ở quê mà vắng bóng người cha thì không chỉ nghèo mà thường bị những đứa trẻ khác hà hiếp. Nó có bố bị bệnh lao nên chết trẻ; còn cha tôi không phải chết mà đi "theo kháng chiến” từ lúc tôi mới lọt lòng. Hai đứa trẻ cùng cuốc bộ đi học, rồi cùng về đi chăn bò ngoài đồng. Lùa bò ra được cánh đồng là chúng tôi mãi mê chơi quên cả trời đất. Nó lì lợm hơn tôi. Nhiều khi đi rình tiếng dế gáy trong đất cày, tôi để bò ăn khoai, lúa thỏa thuê bị người ta đuổi đánh, nó đứng lại hứng đòn thay tôi. Còn thằng tôi chỉ biết cố tìm bắt được chú dế than nào đá ngon lành đem lại biếu nó để lập công chuộc tội!

       Khoảng tháng năm, tháng sáu cánh đồng khô trắng. Ngoài một ít đám ruộng còn chân rạ, phần lớn là đã cày ải chờ mưa. Dưới cái nắng đốt lửa của trời hè, nơi đây mới đích thực là "sân chơi” của bọn trẻ chúng tôi. Nhóm bạn khác thì cắt lá dứa, thắt những quả banh to như cái đầu mang ra mấy chân ruộng rạ chơi trò đá bóng. Tôi không dám đá bóng với chúng nó, vì một lần mới thử đã suýt gãy chân. Thú mê say của tôi là lật đất cày, bắt dế than và đi phục bắt tổ chim chiền chiện. Không hiểu sao thời ấy, lũ chim này nhiều vô kể. Mới sáng tinh mơ ra đồng đã nghe thấy chúng diễn trò tình tứ như trên sân khấu nhà hát. Khoảng từ nửa buổi đến trưa, cánh đồng trắng trở thành khán phòng bất tận cho lũ chim, loài dế. Dưới những luống cày là tiếng kèn "xung trận” của những chàng dế than đang chiến đấu với "tình địch”. Trên trời rổn rảng âm thanh của những chú chiền chiện trống tấu khúc hoan ca, chào mừng đàn con vừa chào đời...

 

       Bây giờ ngẫm lại vẫn thấy lạ. Không hiểu tại sao những con vật bé tí này lại có thể phát ra thứ âm thanh trong trẻo khác thường. Mấy chú dế trống có đôi cánh thẩm nhưng sáng như gương, không phải để bay mà để...hát. Chỉ cần mở ra, khép lại của đôi cánh mà có thể tạo được vô số tầng bậc âm thanh. Nỉ non có; réo rắt có và nhất là khi nó gặp địch thủ thì bất ngờ chuyển hẳn sang "hồi trống cổ thành” của Trương Phi! Càng bí hiểm hơn là tư thế hót của loài chiền chiện. Một lần tôi vào phương Nam, thấy chiếc lồng cao cả nửa thước mà nhốt chú chim nhỏ xíu. Thấy tôi trố mắt nhìn, người chủ chim bảo rằng đó là lồng dành riêng cho chim sơn ca. Vì nó phải bay lên mới hót khỏe. Thì ra, cái danh xưng diễm tuyệt ấy chỉ là chú chiền chiện của quê tôi. Dẫu con chim lồng ấy cũng cố hót để vừa lòng chủ, nhưng tôi thấy tội nghiệp làm sao! Tiếng hót khản đặc của thân phận bị nhốt trong lồng, làm sao sánh được với loại chim trời trên cánh đồng quê. Các loài chim khác, chỉ khi nghỉ ngơi mới lên tiếng hót; còn chiền chiện vừa "hoạt động” vừa tấu khúc giao hoan. Mỗi khi làm tổ cho vợ đẻ hay lúc đàn con vừa chào đời là lúc chú chim trống hót tung trời. Mà khó hiểu nhất là lúc nó bay dựng đứng như trực thăng thì tần suất âm thanh cao dần; càng lên cao tiếng hót càng trong trẻo, vang xa. Đến lúc đôi cánh rung nhẹ, thả trôi xuống thì âm thanh líu lại như tiếng đàn bầu chùng dây. Nếu đem phân chất được sự biến âm của tiếng chiền chiện thì có lẽ các nhà thẫm âm bậc thầy cũng đành giải nghệ.

       Nhưng càng lớn lên tôi càng mê đắm thứ tiếng "bán âm” của loài cu ngói. Ở quê tôi ngày xưa phân biệt rõ hai loài chim cu: Cu đất và cu ngói. Cu đất có màu lông sẫm đen, chỉ lầm lũi kiếm ăn ở mặt đất. Bất cứ lúc nào, mỗi khi gặp bạn tình là chúng tranh thủ "rù rì’ mấy tiếng để tán tỉnh. Âm thanh nặng nề như tiếng ông cụ bị hen. Còn cu ngói là loài có màu lông sáng như màu ngói đất. Mỗi ngày ba lần đều đặn- bình minh, đúng ngọ, hoàng hôn buông xuống- nó tìm lên ngọn cây cao, mới cất tiếng gáy. Mặc cho bụng đói hay lúc no lòng,chúng vẫn say sưa gáy khoảng tiếng đồng hồ. Âm thanh của cu ngói vừa trong lại vừa đục; lúc trầm lúc bỗng như câu Kiều của cụ Nguyễn Du: "Trong như tiếng hạt bay qua/ Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”. Nhất là vào buổi trưa, tiếng gáy của chim cu rất tâm trạng. Nó có khi như tiếng chào mừng, hay giục giã người đi; có lúc lại thổn thức, u trầm như kẻ sa cơ, thất thế. Mỗi lần nghe tiếng "cúc cu...” ấy, trong tôi lại dợn lên những khoảng đời chìm nổi rất riêng tư.

 

      Khoảng những năm 65-70 của thế kỷ trước, xóm làng tôi ngập tràn trong khói lửa chiến tranh. Tiếng bom đạn dội xuống làng, cảnh người chết, kẻ bỏ làng chạy đi tứ tán. Gia đình đơn chiếc của tôi trở nên quá côi cút, không biết phải chạy đi đâu để sống được. Thôi "một liều, ba bảy cũng liều” như mẹ tôi vẫn nói, ba mẹ con đào căn hầm chữ A sau nhà làm nơi trú ẩn. Mấy bụi tre phía trước sân nhà đã bị đạn và ca-nông của Mỹ làm gãy đổ hết. Căn hầm phải đào phía sau vì cần nương tựa vào hai gốc dương liễu còn sót lại. Hôm ấy, qua một đêm căng thẳng vì đạn pháo nổ vang rền, nên cả nhà dậy muộn. Vừa lom khom bước ra cửa hầm, tôi nghe tiếng "cúc cu...” lảnh lót ngay trên đầu. Tiếng gáy chào buổi sáng sao mà ấm áp, tươi vui như không hề biết có việc gì xảy ra. Tự nhiên tôi thấy nhẹ nhõm, thân thiết vô cùng, cứ ngồi thừ người ra để uống từng tiếng chim cu gáy. Trong khi cả làng không còn một tiếng chó sủa hay tiếng gà gáy sáng thì ngay trên ngọn dương liễu xác xơ này vẫn còn đôi bạn chim cu không chịu bỏ làng. Đang say sưa hòa tấu, bỗng đôi chim phát hiện phía dưới có lúc nhúc bóng người chúng vội vã vỗ cánh bay đi. Nhưng chẳng cần ai mời gọi, chiều hôm sau đôi chim lại tìm về trên cành dương ấy. Và sáng sớm thức dậy mọi người đã nghe tiếng "cúc cu...” thay gà báo thức.

       Rồi nỗi khủng khiếp của chiến tranh, lửa đạn cũng đi qua. Quê tôi cũng như bao nhiêu làng quê khác trở lại cuộc sống yên bình. Nhiều loài chim quen thuộc biến mất trước kia như nhồng, chim khách... cũng lần lượt tìm về trên những ngọn cây trong vườn. Nhưng thực sự cuộc sống con người không mấy dễ chịu vì những khó khăn của thời "bao cấp”. Lớp trẻ chúng tôi vừa chui ra khỏi hầm tránh đạn đã phải đối mặt với vô vàn khắc nghiệt của miếng cơm, manh áo. Cuộc sống làng quê êm ả bỗng nhiên bị ngưng đọng lại phía sau tiếng kẻng của phong trào hợp tác xã. Lớp trẻ tráng như chúng tôi, mỗi người một hướng phải bương bả đi tìm kế sinh nhai.

       Một buổi trưa giống như buổi trưa hôm nay, tôi tiễn chân một người bạn lên Tây nguyên xin việc làm. Bạn tôi không có nhiều hành trang, chỉ có chiếc ba lô con cóc để mang theo mấy cân gạo và hai bộ áo quần. Chúng tôi tần ngần, chưa biết nói với nhau điều gì, thì bỗng có tiếng cu gáy phía bên kia đường. Tôi nửa cười, nửa mếu nói với thằng bạn sắp đi xa: " Nếu mày làm ăn được, cố nhớ ở nhà còn có hai "thằng cu”- tao và nó đang tiễn mày đấy”! Chúng tôi cùng đứng lặng một lát. Vẫn tiếng chim cu quen thuộc ấy, sao hôm nay tôi nghe như tiếng nấc nghẹn ngào, vời vợi. Trong bóng râm của cây thị bên đường, chú chim cũng đang lẻ bạn cố cất lên từng hồi thê thiết, rời rã làm hai chúng tôi càng thấy mũi lòng.

 

       Sau bao năm chân trời góc biển, may mắn sao lớp trẻ nhà quê của chúng tôi thuở ấy cũng tìm được chỗ đứng trên các vùng, miền. Có người làm quan bổng lắm, lộc nhiều, nhưng có kẻ tự thân để làm nên cơ nghiệp. Thi thoảng anh em, bạn bè mới gặp lại nhau và câu đầu tiên vẫn là: Có đứa nào về thăm quê chưa? Bây giờ ở đất mình có còn nhiều chiền chiện, chim cu không rứa? Câu hỏi tưởng rất vu vơ ấy lại níu lòng hết thảy bọn tôi về với quê nghèo, cố xứ dẫu đang ở nơi cuối đất, cùng trời.

      Như trưa hôm nay, cái duyên bất chợt cho tôi gặp "người bạn đồng hương” cu ngói, giữa phố đông người. Tiếng "cúc cu...” quen thuộc ấy thực sự đã tắm mát hồn tôi trong giấc trưa lang bạt. Giai điệu lảnh lót của chú chim xa xứ không còn là khúc tiễn đưa mà là cung trầm xao xuyến mời gọi trở về./.

Lên đầu trang   Trở lại  
 
Vui lòng điền thông tin và gửi đến chúng tôi!
Họ & tên     Email  
Tiêu đề     Mã bảo mật  
 
Tản văn & Ký
Bữa tiệc ly – Tập truyện ngắn hay của Lê Hoài Nam - Sơn Đông - 07/04/2014
LÀM NGHỆ THUẬT - Đàm Lan - 15/12/2012
Quê tôi đi ra biển - Tản văn Nguyễn Minh Khiêm - 29/11/2012
Tri ân ngày Lễ Tạ Ơn (Nguyễn Thúy Hạnh) - 28/11/2012
XIN LỖI CỤ LOMONOSOV! (Hoàng Thảo Chi) - 19/11/2012
Ngày họp mặt (Công Khanh) - 17/11/2012
Hõm sâu Một vỉa ngời kỷ niệm long lanh - 16/11/2012
Bến Tre – điểm du lịch trữ tình mùa lễ hội - 15/11/2012
Vùng lõm - Tản văn Nguyễn Minh Khiêm - 13/11/2012
Yêu lắm sắc vàng mùa lúa chín - 07/11/2012
Câu chuyện giàu nghèo (Tản mạn của Đàm Lan) - 05/11/2012
Tre (Tản văn của Huỳnh Kim Bửu) - 02/11/2012
DÒNG SÔNG VÀ CON ĐƯỜNG - 02/11/2012
Mẹ quê (tản văn của Quỳnh Dao) - 21/10/2012
Những xúc cảm tháng mười (Nguyễn Thúy Hạnh) - 19/10/2012
HÀ NỘI: NGẪM NGHĨ TRÊN ĐƯỜNG ĐI - Hàn Sĩ Huy - 18/10/2012
Chùm tản văn Hoàng Thảo Chi - 17/10/2012
Những cuốn sách đi qua đời tôi (Hàn Sĩ Huy) - 10/10/2012
Cổng làng (Nguyễn Minh Khiêm) - 08/10/2012
Năm rồng nói chuyện rồng - 30/09/2012
MƯA - Tản văn Nguyễn Hữu Duyên - 29/09/2012
Thu về, nắng gọi Cúc ơi! (Nguyễn Thúy Hạnh) - 27/09/2012
VỀ CHIẾN KHU CẦN VƯƠNG XƯA - 26/09/2012
Mùa dế (Nguyễn Minh Khiêm) - 24/09/2012
Nhớ...! Tản văn – Hòa Văn - 23/09/2012
Cây gạo và đình làng tôi (Nguyễn Thị Thúy Ngoan) - 13/09/2012
Biển và em - Huệ Nguyên - 11/09/2012
Chào nhé, Tháng Tám ơi… (Nguyễn Thúy Hạnh) - 30/08/2012
Tìm bạn (Hồi ký Trần Huy Liệu) - 14/08/2012
Mưa cao nguyên (Huệ Nguyên) - 12/08/2012
Tháng Tám gọi (Nguyễn Thúy Hạnh) - 10/08/2012
Diệu kỳ sắc hạ cố đô (Hoàng Văn Luận) - 07/08/2012
Đẹp tự trăng rằm (Nguyễn Thị Phụng) - 06/08/2012
KHÔN NHÀ DẠI CHỢ (Trần Đăng Khoa) - 31/07/2012
Tuổi 50 - Tản mạn Đàm Lan - 26/07/2012
Kí ức về một lời phê (Nguyễn Thúy Hạnh) - 11/07/2012
Tìm trong xưa cũ (Hàn Sĩ Huy) - 09/07/2012
Duyên kỳ ngộ (Hoàng Thảo Chi) - 06/07/2012
Lãng đãng tình đầu (Tản văn Hà Sĩ Huy) - 06/07/2012
Tản mạn buồn về những cơn mưa ở Hà Nội (Tản văn: Hàn Sĩ Huy) - 04/07/2012
DU DƯƠNG KHÚC NHẠC ĐÊM HÈ - 20/06/2012
Hạ về thắm sắc Quốc Hoa - 10/06/2012
Tuổi cao sức trẻ (Tản văn của Nguyễn Thị Phụng) - 10/06/2012
ĐẾN VỚI BÀI CHÒI BÌNH ĐỊNH.(Nguyễn Thị Phụng) - 09/06/2012
Hiền hòa dòng nước Mê Kông (Huệ Triệu) - 06/06/2012
DƯỚI VÒM XANH CÂY LÁ (Chử Thu Hằng) - 20/05/2012
Thư Ngỏ Về Vinh Danh (Nguyễn Nguyên Bảy) - 18/05/2012
Những ngọn đuốc mang tên Phượng Vĩ (Nguyễn Thúy Hạnh) - 13/05/2012
Cơm nắm mo cau (Trọng Bảo) - 08/05/2012
Thầy ơi (Trần Hà Nam) - 25/04/2012
Thèm một cơn mưa - Nguyễn Bá Hòa - 24/04/2012
Lang thang cố xứ - Tản văn Ngô Phú Thiện - 23/04/2012
MẤY DÒNG TRI NGỘ (Ngô Phú Thiện) - 20/04/2012
Những nhát roi bất lực (Tản văn Võ Diệu Thanh) - 18/04/2012
Giàn mướp quê (Nguyễn Bá Hòa) - 16/04/2012
PHAN THIẾT MỘT LẦN QUA...(Văn Công Hùng) - 14/04/2012
MỘT ĐỜI NẶNG NỢ VỚI THƠ (Huỳnh Trương Phát) - 05/04/2012
Khiêm cung một nốt trầm (Nguyễn Đức Dũng) - 04/04/2012
Niềm riêng của tháng tư (Nguyễn Thúy Hạnh) - 02/04/2012
Hồ trên núi ( Nguyễn Thị Phụng) - 01/04/2012
Ta - tìm về bức chân dung tự họa của đêm (Nguyễn Dư Huy Hoàng) - 31/03/2012
Cái chết ( Tản văn của Đàm Lan) - 30/03/2012
Những dòng sông quê (Tản văn Nguyễn Thúy Hạnh) - 29/03/2012
Để nhớ một thời (Nguyễn Đức Dũng) - 28/03/2012
Vòng hoa nhỏ cho anh (Ái Nghĩa) - 28/03/2012
Phạm Phù Sa với thơ Đường (Doãn Lê) - 28/03/2012
Thôi, Sa về nhé! (Mai Hữu Phước) - 25/03/2012
Quê tôi mùa đổ ải (Nguyễn Thúy Hạnh) - 17/03/2012
Vàng theo một sắc dã quỳ (Nguyễn Thị Phụng) - 13/03/2012
Phụ nữ và tình yêu (Đàm Lan) - 12/03/2012
Đàn ông và tình yêu (Đàm Lan) - 10/03/2012
Cháo vịt tiết canh vịt (Vân Đình Hùng) - 05/03/2012
Mới đó mà đã 222 năm trôi qua ( Hà Diệp Thu) - 03/03/2012
Mùa Xuân rộn rã quanh ta (Nguyễn Thúy Hạnh) - 10/02/2012
Mùa sấu (Chử Thu Hằng) - 03/02/2012
Sấu (Phan Đình Minh) - 31/01/2012
Tiếng quê (Phạm Thanh Khương) - 31/01/2012
NHẬT KÍ TÌM TRẦM - Phần I (Nguyễn Hoài Nhơn) - 28/01/2012
Chùm tản văn, bút ký - Xuân 2012 của nhiều tác giả - 20/01/2012
Đón Tết Việt ở Mỹ (Mai Hữu Phước) - 19/01/2012
Giêng ơi … nhớ lắm ! (Trần Huy Minh Phương) - 18/01/2012
Bên chén rượu vui ngày xuân (Kim Chuông) - 13/01/2012
Luân Pra Băng- cố đố bên dòng sông Mê Kong (Bút ký Dương Phượng Toại) - 26/12/2011
Chở những mùa trăng đi (Phạm Thanh Khương) - 23/12/2011
Thăm anh một chiều mưa (Nguyễn Thị Phụng) - 22/12/2011
NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT VỀ MỘT BÀI HÁT QUEN THUỘC NHỮNG NĂM 1990 - 21/12/2011
VÀ MỖI LẦN NOÉL ĐẾN - Tản văn: Phan Trang Hy - 20/12/2011
Một tinh thần yêu - Một tinh thần “đi” như Đôn Kihôtê (Hoàng Quý) - 18/12/2011
KÝ SỰ CHĂM PA – P2 (Dương Phượng Toại) - 14/12/2011
KÝ SỰ CHĂM PA (Dương Phượng Toại) - 05/12/2011
Chiếc áo len của nhà thơ Phạm Xuân Hạt - 03/12/2011
Xu hướng bản năng hóa (Đàm Lan) - 30/11/2011
Mùa rau Cải trời (Tùy bút Đặng Thị Qùynh Hương) - 25/11/2011
Nghĩ về hai chữ “làm thầy” (Kim Khánh) - 20/11/2011
Mùa vàng bung hạt (Tạp bút - Nguyễn Thị Phụng) - 15/11/2011
Một thời để nhớ (Tùy bút của Phạm Hữu Hoàng) - 06/11/2011
Bây giờ mũi chỉ đường kim (Tản văn Dương Phượng Toại) - 19/10/2011
Có Một Tô Hoàng tiểu thuyết - Nguyễn Nguyên Bảy - 19/10/2011
Cảm ơn cuộc đời (Ký của Đàm Lan) - 16/10/2011
Tôi đi coi tranh… (Tản văn của Hà Diệp Thu) - 10/10/2011
Trang 1/2: 1, 2  Sau
 
Thông tin liên hệ
Thư ký thường trực
Biên tập viên
Thanh Nhã
thanhnha@vanthoviet.com
Tin bài mới nhất
Nội dung bình luận
THỎA TẤM LÒNG - Từ Đức Khoát - 06/12/2012
Thơ - dạo Tây Hồ - Trần Đình Thư - 06/12/2012
Nhắn tin - nguyenthiphung - 06/12/2012
Xúc động ! - Nguyễn Phước - 04/12/2012
ghen - đăng trình - 04/12/2012
Cảm ơn chị Phụng - Đàm Lan - 04/12/2012
nhận xét - NGÔ TOÀN THẮNG - 03/12/2012
SỬA LẠI BÀI HOẠ - Ngô Thái - 03/12/2012
Nhan qua - Thanhnhan - 02/12/2012
Bạn đọc - Pham Minh Giắng - 30/11/2012
Ý Tưởng Mỹ Thuật - Thiết kế Web
Nước khoáng Tip Top